“Lạc rừng” ở Buôn Mê

Rừng AKo Dhông

Mùa mưa năm trước, như thường lệ, chúng tôi lại rong ruổi dọc Tây Nguyên. Theo đường mòn Hồ Chí Minh, chúng tôi lên thị xã Kon Tum, qua Kon Plong (Kon Tum), sau đó sang Kbang (Gia Lai), vào Đắk R’lấp (Đắk Nông), đến Bảo Lâm (Lâm Đồng) rồi quay về M’Drak (Đắk Lắk). Sau ròng rã một tháng xa nhà, mọi người trở lại Hà Nội. Còn tôi, một mình từ M’Drak lên Buôn Ma Thuột và lưu lại Ako Dhông – một buôn Ê Đê đẹp như thơ, nằm sát vùng ngoại ô phía Bắc của thành phố này. Mấy năm nay tôi vẫn làm thế. Tức là sau khi đã khám phá Tây Nguyên trên chiều rộng, tôi sẽ về hạ neo ở Ako Dhông để từ những trải nghiệm riêng – chung tích lũy được, may ra “ngộ” thêm được vài điều gì đó về vùng đất đầy duyên nợ này. Vả lại, ngoài vấn đề công việc, với tôi, ghé thăm Ako Dhông còn là trở về nhà. Nơi đây, tôi có một gia đình nhỏ gồm bố mẹ nuôi và các anh chị em trong nhà, cùng rất nhiều người bạn chân thành, dễ thương thuộc mọi lứa tuổi.

Lúc tôi đến buôn thì trời đã tối. Mẹ đã đi đọc kinh ở một gia đình khác trong làng, thanh niên đi làm chưa về, chỉ còn bố đợi tôi. Hai bố con vui vẻ thưởng thức món canh cà đắng cay xè mà mẹ đã kì công chuẩn bị từ buổi chiều. Ăn tối xong, tôi xuống thăm rừng. Hẳn bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy tôi nhắc đến rừng. Ngoại trừ dải rừng trồng chạy dọc theo quốc lộ 27 nối sân bay Buôn Ma Thuột với trung tâm thành phố, sao còn có thể tìm thấy bóng dáng của rừng giữa đô thị phồn hoa, náo nhiệt này? Vậy mà, may mắn thay, ngôi làng bé nhỏ của tôi vẫn còn giữ được một khoảnh rừng đấy.

———-

Địa hình của Ako Dhông được chia làm hai phần: bằng phẳng ở ba phía Bắc, Đông, Nam; riêng phía Tây thì đột ngột tụt xuống thành một thung lũng sâu, rộng và ẩm. Phía bằng phẳng, khô ráo là không gian nhân tạo – nơi người làng cư trú và sản xuất, còn phía thung lũng là không gian của rừng, là thế giới tự nhiên.

Từ nhà ra đến thung lũng chỉ mất 5 phút đi bộ. Tôi hăm hở bước xuống con đường dốc – cũng là con đường độc đạo duy nhất dẫn xuống rừng. Tựa như con đường mòn dẫn đến xứ sở thần tiên trong các truyện cổ tích, càng xuống dốc, đường càng rộng và khung cảnh thung lũng càng mở ra, thoáng đãng và mát mẻ. Mặc dù đi dưới tán cây nhưng nhờ có ánh trăng nên tôi vẫn đi đúng hướng. Cứ thế, cho đến khi bước đến vùng rốn của thung lũng thì tôi chững lại. Một cảnh tượng huyền ảo vừa hiện ra trước mắt tôi. Trăng đang chiếu sáng bốn bề thung lũng. Trăng chảy vàng trên những tán cây cổ thụ, trăng biến mặt hồ phẳng lặng thành một chiếc đĩa khổng lồ lấp lánh ánh vàng, trăng sáng soi tận đáy con suối Êa Nuôl làm lộ ra những viên cuội nhỏ và những chú cá rô thia đang e thẹn nép mình dưới cụm rong xanh. Sau một thoáng xúc động, tôi lắng tâm cảm nhận sự hiện hữu kì diệu của đêm trăng giữa rừng – một sự hiện hữu mà tôi biết chắc rằng sẽ rất khó gặp lại.

Trong không gian tĩnh mịch, tôi nghe rõ tiếng nước chảy trong lòng suối, tiếng cá quẫy trên mặt hồ và trên một tán cây cao nào đó, thỉnh thoảng vang lên tiếng kêu của một chàng cú mèo bí ẩn. Đó có thể là tiếng gọi bạn tình, cũng có thể là dấu hiệu cho biết một cuộc săn đêm sắp diễn ra. Tôi nghe tiếng côn trùng âm ỉ trong lòng đất và tiếng bước chân sột soạt, rón rén trong các lùm cây của những con thú nhỏ. Tôi nghe mùi hương quyến rũ và nồng nàn của các loài cây rừng. Tôi thấy những cây cổ thụ cao lớn, trầm mặc, lừng lững dưới ánh trăng mà quá trình sinh trưởng của chúng gắn liền với bao thăng trầm dâu bể của vùng đất này. Tôi thấy ánh trăng đang chảy từ đỉnh đầu xuống bàn chân mình và trong khoảnh khắc, tôi và ánh trăng đã hòa làm một, chảy xuống mặt hồ, tan theo con sóng, hoàn toàn miễn nhiễm với cõi đời ô trọc, bụi bặm ngoài kia. Dù đã nhiều lần đến và ở lại Tây Nguyên, nhưng phải đến đêm nay, tôi mới thực sự đứng giữa rừng để cảm nhận trọn vẹn sự sống muôn màu muôn vẻ của nó và thật kì lạ, trải nghiệm ấy lại diễn ra ở Buôn Ma Thuột mà không phải ở một chốn hẻo lánh, hoang vu nào.

Lúc ấy, tự nhiên tôi nhớ đến cố già làng Ama H’rin. Cũng tại khu rừng này, vào một buổi sáng tháng Ba của mấy năm trước, trong lần đầu tiên đặt chân lên Buôn Ma Thuột, tôi được TS. Tuyết Nhung Buôn Krông đưa đến thăm ông. Biết ông vắng nhà, chị Nhung đưa tôi xuống rừng chơi và bất ngờ gặp ông ở đấy – một người đàn ông dáng thấp đậm, đã ngoài tám mươi nhưng rất rắn rỏi, tinh anh và hiền hậu. Cầm xà gạc trong tay, ông đang đi thăm rừng. Sau cuộc gặp đầu tiên ấy, ông còn nhiều lần tiếp tôi trong ngôi nhà sàn dài của gia đình và kể cho tôi nghe về lịch sử hình thành và phát triển của Ako Dhông.

Năm 1956, các xơ Colomban và Boniface ở Tòa Giám mục Buôn Ma Thuột được chính quyền thành phố cấp cho 45 ha đất rừng để làm đồn điền cà phê. Theo tiếng gọi của các xơ, một người Ê Đê quê ở M’Drắk tên là Y Diêm Niê (tức Ama H’rin), lúc bấy giờ đang làm thuê trong đồn điền của người Pháp, đã về Ako Dhông tham gia vào đội khai hoang đồn điền. Ông nhanh chóng bộc lộ năng lực thủ lĩnh và chiếm được lòng tin của các xơ. Họ truyền đạo cho Ama H’Rin và bàn với ông biến đồn điền thành một giáo điểm kiểu mẫu, với tín đồ là người dân tộc Tây Nguyên. Lòng đầy tin tưởng, Ama H’Rin trở về M’Drắk đưa gia đình và họ hàng lên Buôn Ma Thuột, đồng thời vận động thêm một số gia đình Ê Đê, M’nông khác cùng về Ako Dhông lập nghiệp. Trên đồn điền mới, một cộng đồng đã chớm hình thành. Họ khai thác đồn điền cà phê, tự nguyện cải đạo và thực hành một lối sống mới. Có thể nói, việc tìm đến một tôn giáo mới – với rất nhiều quan niệm và thực hành khác với tín ngưỡng Ê Đê truyền thống, đã giúp Ama H’Rin và cộng đồng nhìn lại chính mình, nhận ra những giá trị cốt lõi và những khiếm khuyết của nó để tiếp nhận cái mới và thay đổi.

Sau 1975, cũng như toàn vùng Tây Nguyên, Ako Dhông đã trải qua nhiều bước ngoặt thay đổi nhưng dưới vai trò định hướng của già làng Ama H’rin, cộng đồng đã kiên trì bảo tồn 3 di sản thiêng liêng của họ: tiếng nói – chữ viết, không gian rừng và không gian nhà sàn. Đó là ba trụ cột định hình nên một lối sống rất Ako Dhông. Trong sinh hoạt thường nhật, ngoài thời gian làm ăn, kiếm tiền, giao thiệp xã hội như bao công dân hiện đại khác trên đất Tây Nguyên, người Ako Dhông, chắc cũng na ná dân Hội An, chủ yếu ở trong làng để nhấm nháp hương vị cuộc sống. Nếu lớp đàn ông trung niên thường gặp nhau uống cà phê bàn chuyện thế thái nhân tình và chia sẻ các “dự án” văn hóa của họ như tu bổ nhà sàn hay sắm thêm các đồ linh khí (chiêng, ché, kpan, trống) thì trai làng thường tụ tập dưới rừng để tâm tình, tập chiêng, đánh đàn. Với lớp phụ nữ đứng tuổi, ngoài thời gian đi lễ nhà thờ, họ thường đi đọc kinh tại nhà của từng thành viên. Hình thức sinh hoạt luân phiên này, thoạt nhìn rất bình dị nhưng có ảnh hưởng lớn đến đời sống của làng. Sau mỗi lần đọc kinh và cầu nguyện,  họ cùng cập nhật, chia sẻ tình hình thời sự của mỗi gia đình và của buôn. Từ đó, họ có thể hỗ trợ nhau trong mọi việc và biết cách điều chỉnh những dấu hiệu, những biểu hiện có nguy cơ đi chệch ra khỏi các giá trị đã được cộng đồng thừa nhận. Không phải đàn ông, chính họ, đại diện của dòng nữ, của nữ quyền, mới là người cầm trịch cho nhịp sinh hoạt của làng mặc dù điều này đôi khi rất khó nhận ra.

Nhà sàn ở AKo Dhông

Sự cộng sinh thú vị giữa Thiên chúa giáo và văn hóa bản địa đã giúp Ako Dhông nhẹ nhõm vượt qua những thử thách lớn lao của đô thị hóa và toàn cầu hóa và nói như một học giả quốc tế nào đó, đã biết cách “bản địa hóa tính hiện đại”, trở thành một di sản độc đáo của Buôn Ma Thuột và Tây Nguyên. Nói thật nhé, Buôn Ma Thuột không nhất thiết phải đi theo mô hình phát triển của các thành phố lớn ở đồng bằng để trở nên đẳng cấp hiện đại. Cái thực sự làm cho thành phố cao nguyên này trở nên khác biệt và hấp dẫn chính là sự đa dạng văn hóa vốn có của nó. Thành phố rất cần các không gian mới mẻ, bề thế, hiện đại, và cũng cần sự tồn tại của các không gian di sản độc đáo như Ako Dhông.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*